Quy hoạch thăm dò, khai thác quặng chì kẽm đến 2020, xét đến 2030

Hạn chế, tiến tới chấm dứt các dự án khai thác, tuyển và chế biến sâu quặng chì kẽm quy mô nhỏ, công nghệ lạc hậu, tổn thất tài nguyên, tiêu thụ năng lượng cao và gây ô nhiễm môi trường

Ngày 13 tháng 11 năm 2015, Thủ tướng Chính phủ đã phê duyệt Quy hoạch thăm dò, khai thác quặng chì kẽm đến năm 2020, có xét đến năm 2030 tại Quyết định số 1997/QĐ-TTg.

Theo đó, hạn chế, tiến tới chấm dứt các dự án khai thác, tuyển và chế biến sâu quặng chì kẽm quy mô nhỏ, công nghệ lạc hậu, tổn thất tài nguyên, tiêu thụ năng lượng cao và gây ô nhiễm môi trường để hình thành các doanh nghiệp có quy mô đủ lớn, đầu tư công nghệ hiện đại, đảm bảo yêu cầu về môi trường, sở hữu nhiều mỏ để chế biến sâu quặng chì kẽm ổn định, lâu dài.

Về thăm dò, phấn đấu đạt khoảng 1.161 nghìn tấn chì kẽm trữ lượng cấp 121 và 122 (giai đoạn đến năm 2020), khoảng 520 – 620 nghìn tấn chì kẽm trữ lượng cấp 121 và 122 (giai đoạn 2021-2030).

Về khai thác, chế biến:

Giai đoạn đến năm 2020 Giai đoạn 2021-2030
Sản lượng khai thác, tuyển quặng đạt khoảng 16,6 nghìn tấn chì và 24,5 nghìn tấn kẽm (quy đổi từ quặng tinh chì, kẽm). Sản lượng quặng oxyt nguyên khai hàm lượng Zn ³ 15% duy trì khoảng 1,5 nghìn tấn kẽm/năm. Tăng dần và duy trì sản lượng khai thác và tuyển quặng hàng năm đạt khoảng 24 nghìn tấn chì và 30 – 32 nghìn tấn kẽm.

Về sản xuất bột oxyt kẽm

Phấn đấu duy trì sản lượng bột oxyt kẽm nguyên liệu (có hàm lượng Zn là 60,2%) đạt khoảng 1,9 nghìn tấn bột/năm.Đẩy mạnh công tác điều tra cơ bản, đánh giá và thăm dò các khu vực quặng chì kẽm có triển vọng tại các tỉnh Hà Giang. Cao Bằng, Bắc Kạn, Yên Bái, Tuyên Quang, Điện Biên. đặc biệt ở các vùng có tiềm năng khoáng sản chì kẽm phân bố ở phần sâu như Chợ Điền. Bắc Kạn và Lang Hít, Thái Nguyên.

Đẩy mạnh nghiên cứu, áp dụng công nghệ tuyển quặng chì kẽm và luyện bột oxyt kẽm tiên tiến. Nhằm sử dụng tiết kiệm, tổng hợp và có hiệu quả các loại quặng chì kẽm, nhất là quặng oxyt có hàm lượng kẽm trên dưới 10%.

Quy hoạch thăm dò, khai thác quặng chì

Quy hoạch phát triển thăm dò quặng chì kẽm

Giai đoạn đến năm 2020 Giai đoạn 2021-2030
  + Hoàn thành 27 đề án thăm dò trên địa bàn 9 tỉnh, thành phố (5 đề án đã cấp phép thăm dò từ năm 2012 đến nay tại các tỉnh Hà Giang. Bắc Kạn, Tuyên Quang và Yên Bái.

+ Cấp phép mới 17 đề án thăm dò tại các tỉnh: Cao Bằng. Bắc Kạn, Tuyên Quang, Điện Biên, Yên Bái và Quảng Bình.

  Lựa chọn 13 đến 16 khu vực quặng chì kẽm để thăm dò, trong đó:

+ Trong kỳ 2021 – 2025: 6 đề án tại tỉnh Bắc Kạn và Tuyên Quang;

+ Trong kỳ 2026-2030: 7 – 10 đề án tại các tỉnh Hà Giang, Lào Cai. Lai Châu, Bắc Kạn. Tuyên Quang, Điện Biên, Nghệ An và một số địa phương các vùng Tây Bắc. Đông Bắc, Bắc Trung Bộ và Tây Nguyên.

 

Quy hoạch phát triển khai thác, chế biến (tuyển) quặng chì kẽm

Giai đoạn đến năm 2020 Giai đoạn 2021-2030
Hoàn thành 29 dự án đầu tư mới. Cải tạo và mở rộng khai thác, chế biến (tuyển) quặng chì kẽm trên địa bàn 9 tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương, trong đó:

+ 7 dự án đã cấp phép khai thác, chế biến trong hai năm 2013 và 2014 tại các tỉnh Bắc Kạn. Tuyên Quang và Thái Nguyên;

+ 6 dự án cải tạo và mở rộng khai thác, chế biến tại các tỉnh Cao Bằng. Lào Cai, Bắc Kạn và Yên Bái

+ 16 dự án khai thác, chế biến tại các tỉnh Hà Giang, Cao Bằng. Bắc Kạn, Tuyên Quang, Điện Biên, Yên Bái và Quảng Bình.

+ Trong kỳ 2021-2025: Hoàn thành 9 dự án đầu tư khai thác, chế biến quặng chì kẽm trên địa bàn hai tỉnh Bắc Kạn và Tuyên Quang.

+ Trong kỳ 2026-2030: Đẩy mạnh đầu tư khai thác, chế biến quặng chì kẽm tại các tỉnh: Hà Giang. Lào Cai, Lai Châu, Bắc Kạn, Tuyên Quang, Điện Biên. Nghệ An và một số địa phương khác ở các vùng Tây Bắc, Đông Bắc. Bắc Trung Bộ và Tây Nguyên.

Quy hoạch sản xuất (luyện) bột oxyt kẽm và kim loại chì, kẽm

Giai đoạn đến năm 2020 Giai đoạn 2021-2030
+ Duy trì các cơ sở chế biến bột oxyt kẽm và chì, kẽm kim loại hiện có và đầu tư mới 03 Dự án luyện chì, kẽm

+ Hoàn thành việc đóng cửa, tháo dỡ nhà xưởng và phục hồi môi trường. tại các cơ sở luyện bột oxyt kẽm công nghệ lò phản xạ lạc hậu ở Tràng Đà. tỉnh Tuyên Quang và Lưu Xá, tỉnh Thái Nguyên.

Duy trì các dự án đã đầu tư và bổ sung 03 Dự án luyện chì. kẽm tại các tỉnh Hà Giang. Tuyên Quang và Thái Nguyên.

Quy hoạch sử dụng quặng chì kẽm

– Không xuất khẩu quặng nguyên khai, quặng tinh chì, kẽm và bột oxyt kẽm nguyên liệu (hàm lượng Zn = 60,2 – 64,2%).

– Các dự án đầu tư khai thác quặng chì kẽm phải gắn với các cơ sở sử dụng.

Tổng nhu cầu vốn đầu tư thăm dò, khai thác, chế biến (tuyển) quặng chì kẽm đến năm 2030 dự kiến khoảng 3.730 – 3.755 tỷ đồng. Trong đó, thăm dò khoảng 530 – 555 tỷ đồng và khai thác. Chế biến khoảng 3.200 tỷ đồng.

Một số giải pháp thực hiện Quy hoạch thăm dò, khai thác quặng chì kẽm:

– Ưu tiên cấp phép khai thác đáp ứng nguồn nguyên liệu cho các dự án chế biến sâu quặng chì kẽm đã và đang đầu tư.

– Tăng cường sự phối hợp giữa Bộ Tài nguyên và Môi trường, Bộ Công Thương và UBND cấp tỉnh trong việc cấp phép hoạt động khoáng sản, cung cấp thông tin về tình hình khai thác, chế biến sau cấp phép.

– Tăng cường công tác kiểm tra, bảo vệ ranh giới các khu vực quặng chì kẽm chưa khai thác.

– Cấu trúc lại các doanh nghiệp có quy mô nhỏ. Hạn chế sử dụng nguồn tài nguyên hạn chế, công nghệ lạc hậu. Tránh tổn thất tài nguyên cao và gây ô nhiễm môi trường. Hoặc khai thác không gắn kết với sử dụng để hình thành các DN có quy mô đủ lớn. Khai thác, chế biến tập trung với công nghệ tiên tiến. Đảm bảo an toàn lao động và thân thiện môi trường: theo với các hình thức sát nhập, liên doanh. liên kết, chuyển nhượng giấy phép hoạt động khoáng sản chì kẽm.

– Có chính sách hỗ trợ doanh nghiệp khi thực hiện chủ trương cấu trúc lại doanh nghiệp.

– Khuyến khích việc sáp nhập các mỏ có quy mô nhỏ. Để phát triển thành các dự án có quy mô đủ lớn, áp dụng công nghệ hiện đại.

– Ưu tiên nguồn vốn khoa học và công nghệ. Nhằm nghiên cứu áp dụng công nghệ chế biến hiệu quả quặng sulfur và quặng oxyt nghèo.

 Quyết định này thay thế Quyết định số 176/2006/QĐ-TTg ngày 1 tháng 6 năm 200. Có hiệu lực thi hành kể từ ngày ký ban hành.

Tin Liên Quan