Tiềm năng quặng đồng tại Việt Nam

Tiềm năng khoáng sản của Việt Nam rất phong phú và đa dạng với nhiều chủng loại khác nhau: Tiềm năng quặng đồng. Khoáng sản kim loại đen, kim loại màu, khoáng sản nhiên liệu, khoáng sản quý hiếm, vật liệu xây dựng, đá quý… chúng phân bố trên hầu hết các vùng lãnh thổ của đất nước, trên đất liền và ở thềm lục địa.

Quặng đồng được hình thành từ sự kết tinh của các đá macma nóng chảy. Khi nhiệt độ hạ xuống đến nhiệt độ kết tinh của các tinh thể chứa đồng chúng sẽ kết tinh. 

Trong thiên nhiên, quặng đồng tồn tại ở nhiều dạng khác nhau như tinh thể, cục, mẩu, tấm,… Về mặt hóa học, đồng tồn tại phổ biến nhất là ở quặng chứa đồng có gốc sunfua, ngoài ra cũng ở dạng cacbonat hoặc oxit. Những quặng đồng quan trọng nhất là chalcopyrit CuFeS2, bornit Cu3FeS3, chalkosin Cu2S, bournonit 2PbS.Cu2S.Sb2S3. Ngoài ra còn một số loại quặng đồng có ý nghĩa kinh tế là: malachit Cu2{(OH)2/CO3)}, azurit 2CuCO3.Cu(OH)3, cuprit Cu2O, chrysocol CuSiO3.2H2O,… Phần lớn quặng đồng trên thế giới chỉ có hàm lượng đồng khoảng 2% nên không thể sử dụng trực tiếp để chế biến mà phải được xử lý làm giàu quặng.

Quặng đồng Việt Nam thuộc vào 4 loại có nguồn gốc hình thành khác nhau là: magma, thuỷ nhiệt, trầm tích, biến chất. Quặng đồng phân tán ở các tỉnh Cao Bằng, Lạng Sơn, Sơn La, Quảng Ninh, Hà Bắc, Quảng Nam-Đà Nẵng, Lâm Đồng… Các mỏ quặng đồng ở những tỉnh này thường có trữ lượng nhỏ, thành phần khoáng đa dạng. Bao gồm nhiều loại như quặng sunfua, cacbonat, nhưng thường gặp là quặng chalcopyrit. Tổng trữ lượng các mỏ đã thăm dò ước đạt khoảng 600.000 tấn đồng.

Những vùng tụ khoáng có tiềm năng quặng đồng quan trọng ở nước ta là:

– Vùng tụ khoáng Sinh Quyền (Lào Cai)

– Vùng tụ khoáng Bản Phúc (Sơn La)

– Vùng tụ khoáng Vạn Sài (Sơn La)

– Điểm quặng Bản Giàng (Sơn La)

– Vùng tụ khoáng Suối Nùng (Quảng Ngãi)

Ngoài các vùng quặng chính như trên, còn có rất nhiều điểm quặng khác phân bố rải rác ở các tỉnh Thanh Hóa. Lạng Sơn, Lào Cai.

Đánh giá tình hình phân bố, trữ lượng và tiềm năng quặng đồng tại một số mỏ quặng đồng chính:

1/ Mỏ đồng Sinh Quyền (Lào Cai) nằm ở hữu ngạn Sông Hồng, cách Lào Cai 25 km về phía Tây Bắc. Có thể tiếp cận vùng tụ khoáng này cả bằng đường sắt và đường ôtô rải nhựa từ Hà Nội đến Lào Cai, sau đó đi đường đất đến làng Sinh Quyền. Vào mùa mưa, khi nước sông lên cao, có thể vận chuyển quặng từ mỏ theo đường thuỷ trên Sông Hồng.

Tiềm năng quặng đồng tại Việt Nam
Tiềm năng quặng đồng tại Việt Nam

Khu mỏ Sinh Quyền được đánh giá là vùng quặng hỗn hợp gồm ba thành phần chính là đồng, đất hiếm và vàng. Đồng ở đây chủ yếu là ở dạng sunfua (chalcopyrit). Mỏ đã được phát hiện, tìm kiếm và thăm dò từ những năm 1961-1873, năm 1975 được Hội đồng trữ lượng Nhà nước phê duyệt với trữ lượng 52,7 triệu tấn quặng đồng cấp B+C1+C2, hàm lượng đồng trung bình khoảng 1,03%, tương đương 551,2 nghìn tấn Cu, kèm theo 334 nghìn tấn R2O, 35 tấn Au, 25 tấn Ag, 843 nghìn tấn S.

Vùng quặng này có 3 dải chính: dải Lùng Thàng – Pin Ngang Chải ở phía Tây là dải quặng đồng – đất hiếm – molybđen. Dải giữa Sinh Quyền-Nậm Mít là dải quặng chính gồm quặng đồng – đất hiếm. Dải Thùng Sáng-Lũng Pô ở phía Đông gồm các mạch quặng thạch anh – sunfua chứa đồng. Diện tích mỏ không lớn, trữ lượng quặng phân bố tập trung, rất thuận tiện cho việc khai thác, ít ảnh hưởng đến môi trường và đất đai nông lâm nghiệp.

Mỏ đồng Sinh Quyền có 17 thân mỏ với tiềm nặng quặng đồng lớn. Trong đó 10 thân quặng sau đây được xếp loại là có giá trị kinh tế, với quy mô và hàm lượng đồng như sau:

Thân quặng Chiều dài
(m)
Chiều rộng
(m)
Độ dày
(m)
Hàm lượng đồng
(%)
1 2.875 395 7,79 1,16
1a 2.185 408 6,29 1,23
3 2.223 270 4.39 1,19
4 2.129 568 13,94 1,03
5 1.180 314 6,43 0,88
6 1.070 319 3,71 0,68
7 508 344 3,04 00,62
10 1.005 471 9,63 0,71

11

445 555 3,52 0,78

12

330 279 3,67 1,31

Thành phần quặng đã thăm dò như sau:

Cu : 0,5 đến 11,58%, trung bình 1,03%

Re2O3 : 0,2 đến 9,7%, trung bình 0,63%, chủ yếu là quặng orthit

Au : 0,46 đến 0,55 g/tấn

Ag : 0,44 đến 0,50 g/tấn

Kết quả làm giàu quặng ở mỏ đồng Sinh Quyền cho thấy, bằng phương pháp tuyển nổi có thể đạt độ thu hồi đồng 92,3 – 94,1%, hàm lượng đồng và các thành phần khác được nâng lên như sau:

Cu = 18 – 22%

S = 31%

Au = 11,5 g/tấn tinh quặng

Trong các năm 1992 – 1994 công ty Auridian đã thăm dò bổ sung và tính được trữ lượng khoảng 91,5 triệu tấn quặng với hàm lượng Cu = 1,05%, hàm lượng Au = 0,5 g/tấn, ngoài ra còn có đất hiếm, Mo, Co, Ag.

2/ Tiềm năng quặng đồng tại Bản Phúc

Mỏ đồng Bản Phúc là vùng tụ khoáng đồng – niken dạng sunfua lớn nhất nước ta, nằm ở khu vực Tà Khoa, tỉnh Sơn La. Vùng này đã được thăm dò từ những năm 1959-1963. Các thân quặng nằm ở độ cao 100 – 520 m trên mực nước biển. Có thể tiếp cận vùng quặng này bằng đường số 6 từ Hà Nội qua Yên Bái đến Tà Khoa (khoảng 340 km). Quặng có thể được vận chuyển bằng tàu thuyền theo Sông Đà, từ Tà Khoa qua đập thuỷ điện Hoà Bình đến Hải Phòng (khoảng 400 km).

Khối núi quặng Bản Phúc là một trong những khối núi quặng hình elip lớn nhất, dài 940 m, rộng 440 m, có tổng diện tích 0,248 km2.

 Mỏ đồng Bản Phúc
Mỏ đồng Bản Phúc

Các nghiên cứu địa chất cho thấy, thân quặng chính của mỏ Bản Phúc gồm chủ yếu là pyrhotit, pentlandit và chalcopyrit, với thành phần quặng như sau :

Cu : 0,75 – 1,63%

Ni : 0,49 – 4,78%

S : 24,98%

Co : 0,02 – 0,20%

Se : 0,004%

Quặng phân tán rải rác xung quanh thân quặng chính, ngoài đồng còn chứa các khoáng với thành phần Fe, Zn, Pb, Co, Ni,… như sau: pyrit, sphalerit, galen, nicolit, skuterudit, ramebergit, violarite, thạch anh,… Thành phần của loại quặng này bao gồm:

Cu : 0,75%

Ni : 0,49%

Co : 0,02%

Se : 0,005%

Te : 0,0001%

Pt : 0 – 0,05 g/tấn

Tổng trữ lượng vùng tụ khoáng Bản Phúc ước đạt 3 triệu tấn quặng, với trữ lượng kim loại trong quặng khoảng 200.000 tấn Ni-Cu. Trữ lượng đã khảo sát và chứng minh được là : 115.000 tấn Ni, 41.000 tấn Cu, 161.000 tấn lưu huỳnh, 3.400 tấn Co, 14 tấn Te , 67 tấn Se.

3/ Tiềm năng quặng đồng tại Vạn Sài

Vùng tụ khoáng Vạn Sài thuộc Sơn La, trữ lượng ước tính khoảng 811 tấn, hàm lượng Cu đạt 1,53%.

4/ Hai điểm quặng Hồng Thu và Quang Tân Trai thuộc tỉnh Lai Châu, đã được khai thác từ thời xa xưa. từ những năm 1990 trở lại đây, dân địa phương vẫn khai thác tự do để lấy quặng đồng chất lượng cao. Quặng đồng ở đây có thành phần như sau:

Cu = 23 – 74%

Fe = 2 – 15%

Ag = 20 – 180 g/tấn

Ge = 1 – 75 g/tấn

5/ Điểm quặng Bản Giàng thuộc Sơn La có quặng đồng tự sinh. Thành phần quặng như sau:

Cu = 86-98%

Au = 0,4 g/tấn

Ag = 10 g/tấn

6/ Tiềm năng quặng đồng tại Suối Nùng

Vùng tụ khoáng đồng Suối Nùng thuộc tỉnh Quảng Ngãi mới được phát hiện. Thành phần khoáng vật chủ yếu là chalcopyrit với hàm lượng Cu đạt 1,04%, ngoài ra còn có bạc, vàng, arsen, thiếc, vonfram. Ước tính, trữ lượng đồng khu vực này có thể lên đến vài trăm ngàn tấn.

Ngoài các vùng quặng chính như trên, còn có rất nhiều điểm quặng khác phân bố rải rác ở các tỉnh Thanh Hóa, Lạng Sơn, Lào Cai.

Tin Liên Quan